12:01 ICT Thứ tư, 15/08/2018
MỖI THẦY CÔ GIÁO LÀ TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC, TỰ HỌC VÀ SÁNG TẠO

Danh mục

Website liên kết

Facebook Trường THPT Hoàng Văn Thụ
Cổng thông tin điện tử nam định
Tạp chí giáo dục
Giáo dục phổ thông
Giao dục thời đại

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 28


Hôm nayHôm nay : 165

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5089

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 287726

Trang nhất » Viết về mái trường

Baner chao mung
Quang cao giua trang

CHẶNG ĐƯỜNG NGÀY ẤY … BÂY GIỜ

Thầy DƯƠNG QUANG ƯNG
Cựu học sinh khóa 1965 – 1968, Nguyên Phó Hiệu trưởng nhà trường


 
Người tìm niềm vui trong màu hoa, sắc lá.
Người tìm niềm vui bằng phép cộng, tích nhỏ to.
Người tìm niềm vui bằng của ngon, vật lạ.
Tôi tìm niềm vui qua từng khóa học trò.

 
     “Đoàn ta tiến quân quyết tiến dưới ngọn cờ vinh quang. Mà Hoàng Văn Thụ đã nêu cao gương chiến đấu”…, “Dù vượt núi cao băng qua thác ghềnh hay là lướt sóng giữa biển cả mênh mông đoàn ta vẫn tiến …” – Lời bài hát trưyền thống đầu tiên của trường do các anh học sinh khóa 1 sáng tác (1965) còn văng vẳng bên tai. Đã nửa thế kỷ như một giấc mơ!

     Ngày ấy mùa thu năm 1965:

     Những đống bàn ghế, những đống tre luồng, lá gồi cũ từ hồ Vị Xuyên chở về , để ngổn ngang trên các gò, bãi đất trống ở trung tâm xã Cộng Hòa… Một tấm bảng gỗ đơn sơ treo trên thân cây đa giữa cánh đồng thôn Tháp. Trên đó dán mươi tờ giấy ghi danh sách các học sinh trúng tuyển vào lớp 8 (lớp 10 bây giờ) vào trường cấp 3 Hoàng Văn Thụ, khóa thứ 2 của trường và là khóa học sinh đầu tiên của Vụ Bản. Từng tốp, từng tốp học sinh áo nâu, áo xanh, chân đất … nghển cổ dõi nhìn. Tôi ở trong số đó và đã nhảy cẫng lên vui sướng khi tìm thấy tên mình. Những ngày sau là lao động. Các khu vườn của dân dưới các lũy tre xanh ở thôn Châu Bạc, Tháp, Phúc Lương, Ngọc Sài, Thông Khê, Vậy, Bối La … lần lượt mọc lên các lán tranh tre nứa lá, lợp lá gồi đủ cho 2 lớp học và dăm gian nhỏ cho các thầy cô giáo ở. Nền lớp học được đào sâu xuống 60-70 cm, xung quanh lớp đắp lũy đất cao gần 1m (để tránh mảnh bom và bom bi). Mỗi học sinh góp 2-3 cây tre để làm hầm chữ A. Mỗi tổ làm 1 hầm đủ cho 10-12 người. Từ lớp học đào đường hào thông ra hầm chữ A, đường hào từ hầm chữ A thông ra các hầm cá nhân và lối thoát ra các khu ngoài. Để giúp tránh đỡ mảnh bom đạn khi bị oanh tạc hay trên đường đi về, mỗi học sinh lại có một mũ rơm đội trên đầu, một nùn rơm đeo sau lưng (như chiếc lá chắn) và một túi thuốc cá nhân gồm bông, băng, thuốc đỏ … Đang trong giờ học, nhiều hôm giật thót mình: Keng – Keng – Keng – tiếng kẻng giật liên hồi của ông Xanh gõ vào vỏ quả bom tấn dài chừng 1,5 m vang khắp xã Cộng Hòa: Báo động ! Tất cả thầy, trò khẩn trương theo đường hào, rút ra các hầm chữ A và hầm cá nhân, chen chúc, nín thở, lo âu … Một số bạn ngồi dưới hầm cá nhân lẽ ra phải gập người cúi xuống để tránh mảnh bom (nếu có) thì lại cứ muốn nghển cổ lên dõi theo máy bay Mỹ gầm rú, cắt bom và bắn rốc két. May mà máy bay địch thường oanh tạc cầu Ninh Bình, thành phố Nam Định, Phủ Lý. Khoảng 20-30 phút hết đợt oanh tạc, lại tiếng kẻng báo yên, lại vào lớp học tiếp … Cực nhất là những hôm trời mưa, trong lớp và các hầm ngập nước lại phải múc nước, lại sửa hầm, ngồi học mà hai chân dẫm bùn! Thế đấy. Kể những chuyện này mãi chẳng hết được.

     Khó khăn, gian khổ là thế nhưng thầy và trò rất vui. Sự học hành thi cử đạt kết quả tốt. Giờ Văn của thầy Thủy, thầy Diệp … các trò lắng nghe nuốt từng lời giảng của thầy. Thầy Diệp thường hay nắm hai tay giơ lên và gằn giọng “nghe đây”. Mỗi giai đoạn, sự kiện lịch sử thầy Bùi Văn Tam đều hệ thống, lập sơ đồ học sinh rất dễ thuộc, thầy Môn dạy bài Hóa vô cơ “Phản ứng trao đổi” dí dỏm “có phản ứng tốt mới nổ!” vài cô cậu học sinh bấm nhau cười rinh rích. Chắc nhiều bạn còn sợ giờ học Vật Lý của thầy Trần Lân: kiểm tra miệng thầy yêu cầu học sinh trình bày bất cứ bài cũ nào hoặc đọc dàn ý của bài từ dưới lên, không được ngắc ngứ. Cứ thế, học sinh nắm vững Vật Lý nhất, đến mức, lúc ôn thi tốt nghiệp, nhiều giờ thầy cho học sinh tự quản, thầy mang súng đi bắn chim … và tất nhiên môn Lý thi tốt nghiệp vẫn ngon lành! Thầy Hoàng Hy dạy học sinh bơi: các kiểu bơi chải, bơi ếch, bơi crưm … ở khúc sông đầu cầu thôn Châu Bạc, thôn Vậy. Thầy Cao Huy An dạy học sinh đánh cờ tay, nhảy cầu, nhảy ngựa, xà đơn … và thầy thường thị phạm các động tác chuẩn, đẹp như vận động viên chuyên nghiệp.

     Quên sao được các thầy Trần Huỳnh, thầy Mai Anh Tuấn … cùng các bạn học sinh Quốc, Đoan, Huân Tây … say sưa tập vở kịch nói “Chiếc va ly khủng khiếp” đi thi hội diễn văn nghệ Tỉnh đạt giải nhất (1965). Quên sao được một ngày gió mùa rét buốt, đội học sinh giỏi môn Toán làm bài thi học sinh giỏi cấp tỉnh tại lán học ở Phúc Lương: giữa buổi thi thầy Nguyễn Duy Hoan còn đạp xe ra cửa hàng ăn ông Xớn (ở xóm Phố bây giờ) mua về bồi dưỡng cho mỗi học sinh thi một chiếc bánh bao 3 hào để ăn lót dạ. Đợt thi năm ấy các bạn Ngô Anh Tuấn, Trần Văn Hồi, Bùi Tuấn Quang, Vũ Tuấn … đã mang vinh quang về cho trường.

     Quên sao được các buổi tập luyện thể dục thể thao, các môn điền kinh, bắn súng, bơi lội … Năm ấy (1966) đi thi Tỉnh đạt giải nhất toàn đoàn, bạn Bùi Thị Lữ giải nhất môn bắn súng, bạn Lê Văn Mạnh giải nhì chạy việt dã… Những niềm vinh quang ban đầu ấy các bạn còn nhớ, và hôm nay có những bạn nào về dự hội trường?

     Cũng những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, nhà trường được đón nhận gần trăm bạn học sinh K8. Đây là những con, em ở vùng đất lửa  Vĩnh Linh – Quảng Trị được nhà nước chuyển ra học ở nơi an toàn hơn. Các bạn được bố trí ở trong nhà dân các thôn: Thiện Vịnh, Thông Khê, Bối Xuyên … xã Cộng Hòa. Tuy xa bố mẹ, gia đình, các bạn rất nỗ lực học tập được các thầy cô tận tình, được các gia đình coi như con em... Sau 30/4/1975 trở lại quê nhà các bạn tiếp tục phấn đấu đóng góp công sức xây dựng quê hương. Nhiều bạn đã thành đạt trong các lĩnh vực. Bạn Thái Vĩnh Liệu, bạn Lê Xuân Hiền … đang là cán bộ chủ chốt của tỉnh Quảng Trị, của huyện Vĩnh Linh. Những học sinh khóa K8 ngày ấy vẫn vẹn nguyên tình xưa, nghĩa cũ. Các bạn đã nhiều lần về thăm trường cũ, thăm các gia đình, làng xóm cưu mang thời chiến tranh. Các bạn đã nhiều lần gặp gỡ, giao lưu với thầy cô giáo trường Hoàng Văn Thụ ở tại Quảng Trị, Cửa Tùng. Hôm nay đây có nhiều bạn đang cùng chung vui với chúng ta, đang cùng sẻ chia nhiều cảm xúc.

     Chiến tranh qua đi. Năm 1973 trường chuyển về địa điểm mới (là vị trí hiện nay). Ngày ấy đây là góc cồn, gò đống và ruộng trũng của xã Trung Thành. Từ hè 1973: lại một lần dỡ, chuyển, dựng lại các nhà tranh tre nứa lá; lại các buổi lao động triền miên. Biết bao công sức của thầy, trò, của phụ huynh: nào là dựng nhà, trát vách, gánh đất đôn nền. Suốt các năm học 1973-1974, 1974-1975 … buổi chiều ai đi qua đây thấy như một công trường. Từng đoàn, từng tốp học sinh, 2 sọt đất từ cầu Ba Toa gánh về, mỗi học sinh khoán từ 15 đến 20 gánh đất một buổi lao động. Ngày ấy 2 bên bờ sông như hai dải đồi đất. Thế mà “từng đàn kiến tha mồi” đã cõng về, làm mất đi khu ruộng trũng, giữ nền móng cho ngôi trường hôm nay. Năm học 1973-1974 trường Hoàng Văn Thụ tách ra thành lập trường cấp 3B Vụ Bản (trường THPT Lương Thế Vinh hiện nay). Cũng từ đây, cơ sở vật chất của trường dần dần từ chỗ 100% tranh tre, vách đất (1973-1977), rồi một nạn hỏa hoạn cháy trụi một dãy lớp học (1981), rồi những dãy lớp học cấp 4 đầu tiên được xây dựng (1984-1985) để đến năm 1994 có một nhà kiên cố 2 tầng với 14 lớp học mọc lên chào đón 30 năm thành lập trường.

     Từ những năm 1973-1974 trường có nhiều thay đổi, thế hệ các thầy cô giáo đầu tiên hầu hết đã nghỉ hưu, đã chuyển đi thành phố, các thầy cô giáo được bổ xung. Khi đó đa số các thầy cô giáo ở và làm việc tại trường, trong 3 dãy nhà vách đất. Những thầy cô độc thân chỉ được ở nửa gian, đủ để kê 1 giường cá nhân, 1 bàn ghế làm việc, còn một góc để các xoong con, các bếp dầu, túi mì sợi. Bên ngoài hè đất rộng 70 cm vừa là lối đi vừa là chỗ để cái xô, cái chậu đựng nước. Tường ngăn mỗi gian, mỗi phòng là vách đất, mọi người đều phải dán báo lên cho sạch. Ăn ở như vậy. Những ngày trời mưa thì thật nhếch nhác. Bây giờ vợ chồng thầy Bảo, thầy Tuất, thầy Thu hay cô Thoa, cô Thơm chắc chưa quên được ấn tượng ấy … Còn các em học sinh: vẫn gian khổ lắm – vừa đói, vừa rét! Các em toàn đi bộ, chân đất đến trường (làm gì có xe đạp?). Mùa đông cũng chỉ 1 – 2 cái áo cánh. Tôi nhớ hồi đó thầy hiệu trưởng Lê Kinh Nông còn mách học sinh lấy giấy báo cũ độn vào trong người cho đỡ rét! Những ngày phải lao động chiều, các em ở xa không về được, buổi trưa trú ngụ tại lớp học, đứa lôi ra nắm cơm vừng, đứa lôi ra dăm củ khoai lang, đứa mươi quả chuối xanh luộc … để ăn trưa! Năm ấy (1973-1974) tôi chủ nhiệm lớp 9E (11E) đầu năm học cả lớp được phân phối mua 5 chiếc bút máy Trường sơn, 2 lọ mực Cửu long, 10 thếp giấy đen … thế là bình bầu, bốc thăm … rôm rả đáo để. Thế đấy giờ nghĩ lại chỉ thấy nghèn nghẹn.

     Khó khăn là thế nhưng cả thầy và trò rất hăng say học tập và hoạt động. Tháng ôn thi tốt nghiệp lớp 10 (lớp 12) mỗi lớp đều chọn 15-25 học sinh yếu kém để quản học buổi tối ở lớp. Mỗi học sinh 1 đèn dầu, thầy giáo dùng 1 đèn chai (dầu hỏa phải phân phối). Trong các lớp học nhìn như sao sa. Các thầy Bảo, thầy Thu, thầy Sơn, thầy Tuất, cô Xuyến, cô Lạng … lên từng lớp quản và hướng dẫn học sinh học. Có những buổi ôn thi đại học, học sinh ở lớp khác còn đứng nép ở lớp liền kề phía sau bấm thủng vách đất để được theo dõi bài giảng của thầy. Những năm ấy có em thi đại học đạt 24,5 điểm, có em đạt 9 điểm thi môn toán khối A …

     Giai đoạn này các hoạt động của thầy, trò cũng rất phong phú. Ai còn nhớ dàn hợp xướng trên 40 thầy cô và các giáo sinh đoàn thực tập sư phạm: bài “Ca ngợi Tổ quốc”, bài “Bài ca sư phạm” … thầy Phạm Sinh chỉ huy, thầy Hữu đệm Accordeon được biểu diễn trên cái sân khấu đắp bằng đất ở sân trường? Ai còn nhớ lần hành quân dã ngoại lên núi Đống Đất xã Minh Thuận (1976): những cuộc đuổi bắt, vật lộn với “quân xanh” ở cánh đồng thôn Hạnh Lâm, thôn Lời … rồi thi nấu ăn, thi bóng chuyền với thanh niên thôn Đống Đất? Ai còn nhớ lần hành quân cắm trại qua đêm ở núi Tiên Hương (1978) mà thầy Bí thư Đoàn trường Lê Khả Trợ là tổng chỉ huy: la liệt trại trên núi đủ sắc màu. Nào là biểu diễn văn nghệ, nào là một số trò nghịch ngợm đêm không ngủ, lẻn đi cắt đứt dây trại của lớp khác, lại mò xuống núi đào trộm khoai lang, ngô bắp của dân về luộc ăn … Và cũng từ những hoạt động ấy đã góp phần để các thầy cô Bảo – Xuyến; Tuất – Lạng; Thu – Châu; Cường – Thơm … trở thành đôi lứa; hay thầy Bí thư Đoàn trường Lê Khả Trợ đã làm các em sinh viên thực tập mắt ngấn lệ: “Nói gì thì nói gì đi. Muộn thì chưa muộn, sớm thì cũng không” khi chia tay …

     Khó khăn rồi cũng qua đi, những năm mở cửa, đổi mới của đất nước quê hương.

     Các thế hệ thầy cô giáo: người nghỉ hưu, người chuyển nơi công tác, thế hệ các thầy cô giáo mới tài năng, trẻ trung tiếp bước chặng đường. Từng dãy nhà cao tầng mọc lên. Khuôn viên trường được mở rộng … Trải qua hàng chục năm, đến nay trường đã rộng rãi khang trang, có đủ các phòng học, phòng thí nghiệm, phòng học ngoại ngữ, phòng học tin học, thư viện … Trường đã có đầy đủ các máy móc, thiết bị để dạy các giờ thực hành môn Vật lý, Hóa học, Sinh học …

     Với sự nỗ lực của đội ngũ hơn 80 thầy cô giáo và nhân viên; sự nỗ lực của hơn 1300 học sinh hàng năm; với sự quan tâm của Sở Giáo dục và Đào tạo, của UBND huyện; với sự chăm lo của các phụ huynh học sinh các xã, liên tục trong nhiều năm qua, mỗi năm nhà trường đều có 60-70% học sinh thi đỗ các trường đại học, cao đẳng, trường đứng vào tốp mạnh trong 56 trường THPT toàn tỉnh. Đặc biệt năm 2011 trường được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 3 (cấp độ cao nhất). Năm 2013 được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia và năm nay 2014 được đón nhận bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo.

     Hôm nay trong cờ hoa, trong niềm hân hoan của hơn 1300 thầy cô giáo và học sinh các thế hệ, chúng ta hãy tưởng nhớ, hãy tri ân các thầy cô giáo của trường đã đi xa … thầy Sinh Anh, thầy Trần Chức, thầy Trần Lân, cô Trần Kiều Diệm, thầy Phạm Quang Thiên …, thầy Trương Tham, thầy Phạm Quốc Thái … và gần đây thầy Vũ Đình Cường, thầy Lê Văn Cự, thầy Nguyễn Đức Thịnh. Trong tôi hình bóng các thầy như còn đang hiện hữu đâu đây.

     50 năm qua trong số gần 2 vạn học sinh từ mái trường này trưởng thành, đã đóng góp công sức xây dựng quê hương, đất nước. Nhiều anh, chị đã thành đạt trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, lực lượng vũ trang, khoa học kỹ thuật và kinh tế … các anh Phùng Hữu Phú, Trần Trung Am, Thái Vĩnh Liệu đã và đang giữ những trọng trách của Đảng, của chính quyền ở Trung ương và Tỉnh thành. Các anh Bùi Văn Nam, Bùi Huy Thăng là các tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang. Các anh Hoàng Quốc Vượng, Trần Văn Hồi, Bùi Ngọc Hiền, Trần Văn Lan … đã và đang giữ trọng trách trong các lĩnh vực kinh tế của nhà nước. Và hiện tại nhiều cựu học sinh khóa sau 1976 đang là những cán bộ chủ chốt của UBND Huyện, của các phòng ban ở Huyện, Tỉnh, là cán bộ quản lý của các cơ sở giáo dục các cấp trong huyện. Tôi, chúng ta trân trọng các anh và mong muốn các anh cống hiến được nhiều, nhiều hơn nữa …

     Các bạn ạ, thước phim thời gian đã chạy đến đoạn cuối và chắc chưa ghi được nhiều những sự kiện, những tên đất, tên người phía trước, ánh mắt long lanh của các em học sinh thế hệ thứ 50 đang dõi nhìn và trái tim của các em đang hòa nhập cùng bước đi của thế hệ cha anh:
… “Thênh thang mây trời. Lắng tai nghe bao lời hát. Biết mấy tự hào về mái trường của chúng tôi”.

 
Vụ Bản, Mùa Thu 2014
 

Giới thiệu

Trường THPT Hoàng Văn Thụ

          Thành lập tháng 9 năm 1964, từ cái nôi trường THPT Lê Hồng Phong Nam Định. Trường đóng tại trường Sư phạm cấp I cũ cạnh bờ hồ Vị Xuyên, được một năm học giặc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt miền Bắc, ngày 02/7/1965 chúng bắn phá phố Hàng Nâu và...